a1- nơi đong đầy tình bạn

good
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 ÔN THI TN PHẦN 1

Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 164
Join date : 18/09/2011
Đến từ : TÂY NINH

Bài gửiTiêu đề: ÔN THI TN PHẦN 1   Fri Nov 18, 2011 2:06 pm

A. VĂN HỌC SỬ:
KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX

I – Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975:
1-Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá :
- Đường lối văn nghệ của Đảng góp phần tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, về tổ chức và quan niệm nhà văn kiểu mới.
- Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài suốt 30 năm.
- Nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn và chậm phát triển. Giao lưu văn hoá chủ yếu giới hạn trong các nước XHCN.
2- Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu:
a) Chặng đường từ 1945 đến 1954:
- Một số tác phẩm trong hai năm 1945-1946 phản ánh được không khí hồ hởi, vui sướng đặc biệt của nhân dân ta khi đất nước giành được độc lập.
- Từ cuối 1946 đến 1954 văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
+ Truyện ngắn và kí sớm đạt được thành tựu: Một lần tới Thủ đô, Trận phố Ràng (Trần Đăng), Đôi mắt, Ở rừng (Nam Cao); Làng (Kim Lân); Thư nhà (Hồ Phương),…
-Từ năm 1950, xuất hiện những tập truyện, kí khá dày dặn: Vùng mỏ (Võ Huy Tâm); Xung kích (Nguyễn Đình Thi); Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc),…
+ Thơ ca đạt nhiều thành tựu xuất sắc: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng,..( Hồ Chí Minh), Bên kia sông Đuống ( Hoàng Cầm), Tây Tiến (Quang Dũng),..Đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
+ Một số vở kịch ra đời phản ánh kịp thời hiện thực cách mạng và kháng chiến.
b) Chặng đường từ 1955 đến 1964:
- Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát khá nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực đời sống:
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp
+ Hiện thực đời sống trước CM
+ Công cuộc xây dựng CNXH
- Thơ ca phát triển mạnh mẽ, nhiều tập thơ xuất sắc ra đời
- Kịch nói có bước phát triển mới
c) Chặng đường từ 1965 đến 1975:
- Chủ đề bao trùm của văn học là đề cao tinh thần yêu nước, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
- Văn xuôi : phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động, khắc hoạ thành công hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường và bất khuất :
- Thơ đạt được bước tiến mới trong mở rộng, đào sâu chất liệu hiện thực đồng thời tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng và chính luận. Đặc biệt là sự xuất hiện đông đảo và những đóng góp đặc sắc của thế hệ các nhà thơ trẻ.
- Kịch nói có những thành tựu mới, gây được tiếng vang
d) Văn học vùng địch tạm chiếm (1946-1975): Xu hướng văn học tiến bộ, yêu nước và cách mạng có những đóng góp đáng ghi nhận trên cả hai bình diện chính trị-xã hội và văn học.
3 - Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975:
a) Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Văn học Việt Nam 1945-1975 như một tấm gương phản chiếu những vấn đề lớn lao, trọng đại nhất của đất nước và cách mạng: đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng CNXH.
b) Nền văn học hướng về đại chúng.
- Nhận thức mới về quần chúng nhân dân.
- Hướng về đại chúng, TP văn học thường ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng, sử dụng những hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân, ngôn ngữ bình dị, trong sáng, dễ hiểu.
c) Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
+ Khuynh hướng sử thi thể hiện:
* Đề tài : những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất toàn dân tộc
* Nhân vật chính : những con người đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc; gắn bó số phận cá nhân với số phận đất nước; luôn đặt bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ý thức chính trị, tình cảm lớn, lẽ sống lớn lên hàng đầu
* Lời văn : ngợi ca, trang trọng và lấp lánh vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng.
+ Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và hướng tới lí tưởng (ở thời kì này là ngợi ca cuộc sống mới, con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng CM và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước.
+ Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn làm cho văn học thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển cách mạng.
II – Vài nét khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1975 đến hết thế kỉ XX:
1 - Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá :
- Với chiến thắng năm 1975, lịch sử dân tôc ta mở ra một thời kì mới - thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Tuy nhiên từ 1975 đến 1985 đất nước ta lại gặp phải những khó khăn và thử thách mới.
- Từ năm 1986, Đảng ta đề xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện. Tiếp xúc và giao lưu văn hoá được mở rộng. Sự nghiệp đổi mới thúc đẩy nền văn học cũng phải đổi mới để phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của văn học.
2 - Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu:
- Từ sau 1975 :
+ Thơ không tạo được sự lôi cuốn , hấp dẫn như các giai đoạn trước nhưng vẫn có những tác phẩm được bạn đọc chú ý.
+ Văn xuôi có nhiều khởi sắc, bộc lộ ý thức đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống.
- Từ năm 1986 : văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, gắn bó, cập nhật hơn đối với những vấn đề của đời sống hằng ngày. Nhiều tác phẩm tạo được tiếng vang lớn
- Từ sau năm 1975, kịch nói phát triển mạnh mẽ. Các vở Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) và Mùa hè ở biển (Xuân Trình),…tạo được sự chú ý
* Một số phương diện đổi mới trong văn học:
- Văn học đổi mới vận động theo khuynh hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc.
-Văn học phát triển đa dạng hơn về đề tài, chủ đề; phong phú và mới mẻ hơn về thủ pháp nghệ thuật
- Đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mơi cách nhìn nhận, cách tiếp cân con người và hiện thực đời sống, đã khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kẻ cả đời sống tâm linh.
Nhìn tổng thể cái mới của văn học giai đoạn này là tính chất hướng nội, quan tâm nhiều hơn tơi số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường.
Bên cạnh những thành tựu, quá trình đổi mới văn học cũng xuất hiện những khuynh hướng tiêu cực, những biểu hiện quá đà, thiếu lành mạnh
III - Kết luận:
- Văn học VIỆT NAM từ 1945 đến 1975 đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ những truyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc, và đạt được nhiều thành tựu nghê thuật ở nhiều thể loại, tiêu biểu nhất là thơ và truyện ngắn.
- Từ năm 1986, văn học đổi mới mạnh mẽ phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc, phù hợp với quy luật khách quan của văn học và gặt hái được những thành tựu bước đầu.

B. TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH THỂ LOẠI VĂN CHÍNH LUẬN:
1. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
(Hồ Chí Minh)

PHẦN 1 : TÁC GIẢ
I.Vài nét về tiểu sử:(SGK)
II. Sự nghiệp văn học :
1. Quan điểm sáng tác:
- Xem văn nghệ là hoạt động tinh thần phong phú phục vụ hiệu quả cho hoạt động CM. Nhà văn cũng phải có tinh thần xung phong như những người chiến sĩ ngoài mặt trận.  Tính chiến đấu của văn học
- Văn chương phải có tính chân thật, hình thức nghệ thuật của tác phẩm phải có sự chọn lọc, sáng tạo, ngôn ngữ trong sáng tránh lối viết xa lạ, cầu kì, phát huy cốt cách dân tộc, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.  Tính chân thật và tính dân tộc của văn học:
- Nội dung và hình thức tác phẩm phải xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp nhận : “Viết cho ai?”(đối tượng), “Viết để làm gì?” (mục đích), “Viết cái gì?” (nội dung), “Viết như thế nào?” (hình thức).  Tính mục đích của văn chương
2. Di sản văn học.
a. Văn chính luận.
- Mục đích : đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù, giác ngộ quần chúng, thể hiện nhiệm vụ cách mạng qua từng chặng đường lịch sử.
- Nghệ thuật : là những áng văn chính lận mẫu mực, thể hiện lí trí sáng suốt, trí tuệ sắc sảo, tấm lòng yêu ghét nồng nàn, sâu sắc, tầm hiểu biết sâu rộng về văn hóa, về thực tiễn cuộc sống.
- Tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến…
b. Truyện và kí:
- Viết từ những năm 20 của thế kỉ XX (1920-1925)
- Nội dung : tố cáo, châm biếm, đả kích thực dân và phong kiến ở các nước thuộc địa, bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc.
- Nghệ thuật : cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo, ý tưởng thâm thúy, lạc quan, phong cách hiện đại, thể hiện vẻ đẹp trí tuệ sắc sảo với trí tưởng tượng phong phú, vốn văn hoá sâu rộng và tính thực tiễn.
- Tác phẩm tiêu biểu : Con người biết mùi hun khói, Vi hành, Những trò lố hay là Va – ren và Phan Bội Châu(1925), Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể truyện (1963)…
c. Thơ ca: phong phú, nhiều thể loại
- Nhật kí trong tù.
+ Tác phẩm ghi lại một cách chân thực chế độ nhà tù Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch  giá trị phê phán.
+ Phản ánh bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh : nghị lực phi thường, tâm hồn khát khao tự do, hướng về Tổ quốc, nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên, trái tim mênh mông với mọi kiếp người.
+ Nghệ thuật : sâu sắc về tư tưởng, đa dạng và linh hoạt về bút pháp nghệ thuật, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật thơ ca Hồ Chí Minh.
- Ngoài NKTT, còn phải kể đến một số chùm thơ người làm ở Việt Bắc trong những năm kháng chiến. Thơ HCM (86 bài – Tiếng Việt), Thơ chữ Hán (36 bài )  phong thái ung dung, hoà hợp với thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh của người cách mạng.
3. Phong cách nghệ thuật: Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh độc đáo mà đa dạng.
- Văn chính luận: Ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp, giàu hình ảnh, giọng điệu đa dang.
- Tryện và kí: Thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. Tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng mà thâm thuý sâu cay. Thể hiện chất trí tuệ sắc sảo và hiện đại.
- Thơ ca: Phong cách hết sức đa dạng, hàm súc, uyên thâm, đạt chuẩn mực về nghệ thuật, sử dụng thành công nhiều thể loại thơ . Có loại thơ tuyên truyền cổ động lời lẽ mộc mạc giản dị, có loại thơ hàm súc uyên thâm kết hợp giữa màu sắc cổ điện và bút pháp hiện đại.
PHẦN 2 : TÁC PHẨM
I. Giới thiệu :
1. Hoàn cảnh sáng tác : Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Phát xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng nước ta lúc bấy giờ, đã đầu hàng Đồng minh. Trên toàn quốc, nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền. Ngày 26-08-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới.
2. Đối tượng và mục đích của TNĐL.
* Đối tượng.
- Đồng bào cả nước và nhân dân thế giới.
- Đế quốc Anh, Pháp, Mĩ.
* Mục đích.
- Tuyên bố và khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc VN,
- Bác bỏ luận điệu của bọn xâm lược trước dư luận thế giới, đồng thời khẳng định ý` chí bảo vệ độc lập dân tộc.
3 Bố cục:
+ Đoạn 1: (từ đầu đến không ai có thể chối cãi được): Nêu nguyên lí chung của Tuyên ngôn độc lập.
+ Đoạn 2: (Từ “Thế mà” đến “phải được độc lập”): Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định thực tế lịch sử là nhân dân ta đã kiên trì đấu tranh và nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VNDCCH.
+ Đoạn 3 (Còn lại) : Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.
II - Nội dung đọc hiểu :
1. Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn :
- Trích dẫn 2 bản tuyên ngôn của Mĩ ( 1776) và Pháp (1791) : khẳng định Nhân quyền và Dân quyền của con người.
 Đề cao giá trị tư tưởng nhân đạo, tiến bộ của nhân dân Mĩ và Pháp, cũng là của văn minh nhân loại.
 Làm cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn.
- Từ quyền bình đẳng và tự do của con người, tác giả suy rộng ra: “Tất cả dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng” → Khẳng định quyền độc lập dân tộc của VN.
 mở đầu sâu sắc, hùng hồn nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp; ngăn chặn âm mưu can thiệp của đế quốc Mĩ và nhắc nhở họ đừng phản bội tổ tiên.
2/ Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn :
a / Vạch trần bộ mặt tàn bạo , xảo quyệt của Pháp :
- Lợi dụng lá cờ “bình đẳng , bác ái ” để cướp nước ta, bóc lột ta về mọi mặt : chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngoại giao.
→ Giọng văn vừa hùng hồn , đanh thép , dẫn chứng cụ thể, liên tiếp tố cáo tội ác của Pháp.
b/ Thông điệp mà bản Tuyên ngôn độc lập hướng tới :
- Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ hết mọi hiệp ước, đặc quyền của thực dân Pháp về VN.
- Kêu gọi toàn dân VN đoàn kết chống lại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.
- Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của VN.
3. Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc
- Tuyên bố nhân dân VN quyết tâm giữ vững nền độc lập của dân tộc.
- Khẳng định VN có quyền và đủ tư cách hưởng độc lập , tự do.
 Áng văn chính luận mẫu mực: lập luận chặt chẽ, luận điểm xác đáng, giàu sức thuyết phục, ngôn từ trong sáng, hùng hồn, đanh thép.


2. NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU NGÔI SAO SÁNG
TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
(Phạm Văn Đồng)

I.Tìm hiểu chung
1. Tác giả :
- Phạm Văn Đồng (1906-2000), quê quán ở Quảng Ngãi, là nhà cách mạng, nhà chính trị, nhà ngoại giao lỗi lạc của cách mạng VN thế kỉ XX.
- Phạm Văn Đồng còn là nhà giáo dục, nhà lí luận văn hoá văn nghệ lớn.
2. Văn bản
a) Hoàn cảnh, mục đích sáng tác
- Sáng tác tháng 07/1963 nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu.
- Để tưởng nhớ Nguyễn Đình Chiểu; định hướng, điều chỉnh cách nhìn nhận, đánh giá về Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông; khơi dậy tinh thần yêu nước trong thời đại chống Mĩ cứu nước.
b) Thể loại:
- Văn bản nghị luận về một vấn đề văn học....
- Yêu cầu thể loại: Bố cục rõ ràng, mạch lạc; Tính lí trí cao, lập luận chặt chẽ, khoa học, lôgic.; Lí lẽ sắc bén, dẫn chứng xác thực có sức thuyết phục; Có thể sử dụng yếu tố biểu cảm.
c)Bố cục
* Bố cục
- Nêu vấn đề: Từ đầu đến “đặt chân lên đất nước ta”: Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của dân tộc cần phải được nghiên cứu, tìm hiểu và đề cao hơn nữa.
- Giải quyết vấn đề: Tiếp theo đến “còn vì văn hay của Lục Vân Tiên”
+ Luận điểm 1: Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ yêu nước
+ Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu - tấm gương phản chiếu phong trào chống Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ.
+ Luận điểm 3: Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, nhất là ở miền Nam
- Kết thúc vấn đề: Còn lại: Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu - tấm gương sáng của mọi thời đại.
* Nhận xét kết cấu của văn bản
- Không kết cấu theo trình tự thời gian
- Lí giải: do mục đích sáng tác.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Nêu vấn đề
- Đánh giá so sánh Nguyễn Đình Chiểu là:
+ Ngôi sao có ánh sáng khác thường: ánh sáng đẹp nhưng chưa quen nhìn nên khó thấy
+ Phải chăm chú nhìn mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng: phải dày công nghiên cứu thì mới thấy.
Luận đề: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước mà các tác phẩm của ông là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, một tác giả cần được nghiên cứu đề cao hơn nữa.
Tác giả đã vào đề một cách trực tiếp, thẳng thắn, độc đáo: nêu vấn đề một cách trực tiếp và lí giải nguyên nhân với cách so sánh cụ thể, giàu tính hình tượng. Đó cũng là cách đặt vấn đề khoa học, sâu sắc vừa khẳng định được vị trí của Nguyễn Đình Chiểu vừa định hướng tìm hiểu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu .
2. Giải quyết vấn đề:
a. Luận điểm 1: Cuộc đời, con người và quan niệm sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.
- Hoàn cảnh sống: nước mất nhà tan, mang thân phận đặc biệt: mù cả hai mắt.
- Con người: nhà nho yêu nước, vì mù mắt nên hoạt động chủ yếu bằng thơ văn; nêu cao tấm gương anh dũng, khí tiết, sáng chói về tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.
- Quan niệm sáng tác: dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu, ca ngợi đạo đức, chính nghĩa.
 Quan niệm văn chương của Nguyễn Đình Chiểu hoàn toàn thống nhất với quan niệm về lẽ làm người.
b. Luận điểm 2: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu.
- Tái hiện một thời đau thương, khổ nhục mà vĩ đại của đất nước, nhân dân.  thơ văn NĐC đã bám sát đời sống lịch sử đấu tranh của nhân dân Nam Bộ, có hơi thở nóng bỏng của tình cảm yêu nước thuơng nòi. Đó cũng là cách khẳng định NĐC xứng đáng là một ngôi sao sáng .
- Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, than khóc cho những người đã trọn nghĩa với dân.
Luận chứng: VTNSCG là một đóng góp lớn
+ Khúc ca của người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang
+ Lần đầu tiên, người nông dân di vào văn học viết, là hình tượng nghệ thuật trung tâm.
- Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ có sức nặng đấu tranh mà còn đẹp ở hình thức, có những đóa hoa, hòn ngọc rất đẹp...
Văn chương NĐC tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại, có sức cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống thực dân.
c) Luận điểm 3 :Truyện Lục Vân Tiên.
- Là “một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa.
- Không phủ nhận những hạn chế của tác phẩm: giá trị luận lí mà NĐC ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm chúng ta thì có phần đã lỗi thời”, hay văn chương của LVT “có những chỗ lời văn không hay lắm”.
- Khẳng định tư tưởng, thế giới nhân vật, về nghệ thuật trong truyện LVT có những điểm mạnh và giá trị riêng: tư tưởng nhân-nghĩa-trí-dũng; nhân vật gần gũi với nhân dân, từ nhân dân mà ra: dũng cảm, đấu tranh không khoan nhượng cho chính nghĩa; nghệ thuật kể truyện nôm dễ hiểu dễ nhớ, dễ truyền bá dân gian, thậm chí có cả những lời thơ hay.
 cách lập luận đòn bẩy, bắt đầu lập luận là một sự hạ xuống, nhưng đó là sự hạ xuống để nâng lên; xem xét LVT trong mối quan hệ mật thiết với đời sống của nhân dân.
3. Kết thúc vấn đề:
- Khẳng định vị trí của NĐC trong lịch sử VH, trong đời sống tâm hồn dân tộc và trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
- Tỏ niềm tiếc thương thành kính.
Vừa có tác dụng khắc sâu, vừa có thể đi vào lòng người niềm xúc cảm thiết tha.
III. Kết luận:
1. Nghệ thuật :
- Kết hợp hài hòa giữa lí lẽ xác đáng và tình cảm chân thành; lập luận chặt chẽ, khoa học, luận cứ và luận chứng xác đáng. Bố cục mạch lạc, ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng.
2. Nội dung
- Đánh giá đúng đắn và khoa học về tác gia văn học Nguyễn Đình Chiểu trong văn học yêu nước của dân tộc.
- Bày tỏ được thái độ trân trọng và cảm phục của tác giả đối với tâm gương sáng nhà văn –chiến sĩ Nguyễn Đình Chiểu.
- Khơi dậy sức mạnh của văn nghệ và tinh thần yêu nước và đấu tranh chống đế quốc, bảo vệ độc lập dân tộc

3. THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI
PHÒNG CHỐNG AIDS 1-12-2003
( Cô-phi-An-nan)
I. Giới thiệu
1. Tác giả
- Cô-phi-An-nan (1938) tại Gana ( Châu Phi), bắt đầu làm việc tại tổ chức Liên hợp quốc từ năm 1962, 1996 là phó tổng thư kí Liên hợp quốc, 1/1997-1/2007 ông trở thành người thứ bảy và là người Châu Phi da đen đầu tiên giữ chức vụ tổng thư kí Liên hợp quốc.
- Năm 2001 tổ chức Liên hợp quốc và cá nhân Cô-phi-An-nan được trao giải Nôben Hoà bình. Ông cũng được trao nhiều giải thưởng danh dự khác ở châu Âu, Á, Phi…
2. Hoàn cảnh sáng tác
- Năm 2001 Cô-phi-An-nan ra lời kêu gọi thế giới đấu tranh phòng chống HIV, kêu gọi thành lập quỹ sức khoẻ và AIDS toàn cầu.
- Thông điệp này được Cô-phi-An-nan viết gửi nhân dân thế giới nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1/12/2003.
II. Tìm hiểu văn bản
1. Tình hình phòng chống HIV trên thế giới.
a. Những vấn đề đã đạt được.
- Ngân sách phòng chống HIV tăng.
- Quỹ toàn cầu phòng chống lao, sốt rét được thông qua.
- Các nước đã xây dựng kế hoạch phòng chống HIV.
- Các công ty đã áp dụng chính sách phòng chống HIV nơi làm việc, nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng phối hợp với chính phủ và tổ chức khác phòng chống HIV.
b.Những vấn đề chưa đạt được.
- HIV vẫn gây tỉ lệ tử vong cao, ít có dấu hiệu suy giảm (1 phút có 10 người bị nhiễm HIV, HIV đang lây lan ở mức báo động đối với phụ nữ, phụ nữ đã chiếm một nửa số người bị nhiễm, bệnh dịch này lan rộng ở những nơi trước đây được coi là an toàn: châu Á, Đông Âu, Uran đến Thái Bình Dương), điều này dẫn đến dân số có nguy cơ giảm, ảnh hưởng đến lực lượng lao động toàn cầu.
- Chúng ta chưa đạt được chỉ tiêu đề ra trong năm 2005: chưa giảm được số thanh niên, trẻ sơ sinh nhiễm HIV, chưa triển khai chương trình chăm sóc toàn diện trên thế giới.
2. Các biện pháp cần thực hiện để đẩy lùi HIV.
- Cần có nguồn lực và hành động cần thiết “ chúng ta cần phải nổ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết”.
- Đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu và sẵn sàng đối mặt với nó “chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình. Đó là lí do chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS”.
- Không có thái độ kì thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV “ chúng ta sẽ không hoàn thành các mục tiêu đề ra thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp tục diễn ra đối với những người bị HIV/AIDS. Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “ chúng ta” và “họ”.
- Mọi người cùng chung tay để chống lại căn bệnh của thế kỉ “Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV/AIDS bắt đầu từ chính các bạn”.
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
- Tác giả sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, thuyết phục:
+ Mở đầu nêu luận điểm xuất phát “ngày hôm nay chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên. Song những hành động của ta vẫn còn quá ít so với yêu cầu thực tế”.
+ Sau đó đi vào từng luậm điểm : luận điểm 1, tác giả nêu lên những gì thế giới đã làm được để phòng chống HIV thời gian qua, tác giả đưa ra những luận cứ, những dẫn chứng xác thực, dẫn chứng được đưa theo phương diện từ rộng đến hẹp ( ngân sách phòng chống HIV trên thế giới, quốc gia, công ty….). Luận điểm 2, tác giả nêu lên những gì thế giới chưa làm được trong phòng chống HIV, đưa ra những số liệu chính xác, thuyết phục ( trong năm qua mỗi phút đồng hồ …. Thái Bình Dương).
+ Sử dụng lập luận phản đề ( lẽ ra…lẽ ra…và lẽ ra…) làm cơ sở để đưa ra kiến nghị của mình.
+ Để tăng tính thuyết phục bài viết sử dụng câu văn dài ngắn khác nhau, sử dụng nhiều câu khẳng định, mệnh lệnh ( chúng ta đã… chúng ta hãy….chúng ta không thể…hãy cùng tôi….) và cũng để tạo nên giọng điệu hùng hồn cho bài viết.
- Câu văn chứa đựng nhiều yếu tố biểu cảm nhất là đoạn “Đó là lí do chúng ta phải công khai lên tiếng → hết”, nhờ yếu tố biểu cảm đó giúp bài văn không khô khan mà dễ thuyết phục và thúc giục mọi người hành động phòng chống HIV.
- Ngôn ngữ hàm súc,chọn lọc, bài viết ngắn gọn, súc tích, cô đọng.
2. Nội dung
Trước hiểm hoạ của căn bệnh thế kỉ, HIV đang cướp đi sức khoẻ, sinh mạng của nhân loại, với vai trò là tổng thư kí Liên hợp quốc, Cô-phi-An-nan đã ra lời kêu gọi nhân dân thế giới hãy chung tay đẩy lùi đại dịch này. Đó không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân, một tổ chức nào mà là nhiệm vụ chung của tất cả chúng ta.

C. MỘT TÁC PHẨM, MỘT ĐOẠN TRÍCH THỂ LOẠI THƠ:

1. TÂY TIẾN
(Quang Dũng)

I. Vài nét chung về tác giả và bài thơ:
1. Tác giả: (Xem sgk-trang 87)
2. Hoàn cảnh ra đời:
- Tây Tiến là đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo về biên giới Việt - Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt Nam.
- Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa (Lào).
- Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên (như Quang Dũng), chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và dũng cảm. Quang Dũng từng là đại đội trưởng.Đoàn quân Tây Tiến sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52.
- Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị chẳng bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ Nhớ Tây Tiến. Khi in lại tác giả đổi tên bài thơ là Tây Tiến.
II. Nội dung đọc hiểu:
1. Bố cục:
- Theo văn bản, bài thơ chia làm 4 đoạn. Ý chính của mỗi đoạn:
+ Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội.
+ Đoạn 2:Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.
+ Đoạn 3:Chân dung của người lính Tây Tiến.
+ Đoạn 4:Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây.
- Mạch liên kết giữa các đoạn của bài thơ là mạch cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ. Bài thơ được viét trong nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, đầy thơ mộng. Bài thơ là những kí ức của Quang Dũng về Tây Tiến; những kí ức, những kỉ niệm được tái hiện lại một cách tự nhiên, kí ức này gọi kí ức khác, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác như những đợt sóng nối tiếp nhau. Ngòi bút tinh tế và tài hoa của Quang Dũng đã làm cho hồi ức ấy trở nên sống động và người đọc có cảm tưỏng đang sống cùng với nhà thơ trong những hồi tưởng ấy.
2. Đoạn thơ: (Sông Mã........thơm nếp xôi)
- Ở đoạn thơ thứ nhất, bức tranh thiên nhiên miền Tây lần lượt hiện ra qua những khung cảnh của địa bàn hoạt động, những chặng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến cũng thấp thoáng hiện lên trên nền cảnh thiên nhiên ấy.
- Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày, liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Khổ thơ này là một bằng chứng trong thơ có hoạ (“thi trung hữu hoạ”). Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền Tây- địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ ngữ giàu giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo miền Tây. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trong mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thơ thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Đọc câu thứ tư, có thể hình dung cảnh người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biên khơi.
Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hương đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại (câu thơ toàn thanh bằng). Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng những gam màu lạnh làm dịu lại cả khổ thơ.
Sự trùng điệp của núi đèo miền Tây trong bài thơ Tây Tiếnlàm gợi nhớ đến mấy câu thơ trong Chinh phụ ngâm: “Hình khe thế núi gần xa,- Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao”. Còn sự hoang vu và hiểm trở của nó gợi nhớ tới câu thơ trong bài Đường Thục khó (Thục đạo nan) của Lí Bạch: “Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh” (Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên).
Vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng miền Tây được nhà thơ tiếp tục khai thác. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở chiều thời gian, luôn là mối đe doạ khủng khiếp đối với con người:
Cảnh núi rừng miền Tây hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiên lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưi rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,...Những tên đất lạ: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch , những hình ảnh giàu giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn, được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng vừa độc đáo của núi rừng miền Tây Tổ quốc.
Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên.Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai.
3. Đoạn thơ: “Doanh trại....hoa đong đưa”: Qua ngòi bút tài hoa của Quang Dũng, thiên nhiên và con người miền Tây hiện ra với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình.
- Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của miền Tây. Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng của miền Tây. Những nét vẽ bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu đến đoạn này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Sự tinh tế, tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này.
Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa. Cảnh âýy, người ấy hiện lên trong một khoảng thời gian làm nổi lên rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo của nó: cảnh một đêm liên hoan lửa đuốc bập bùng và cảnh một buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất thơ mộng:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Cả doanh trại bừng sáng, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng miền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy (“xiêm áo tự bao giờ”), vừa e thẹn, vừa tình tứ (“nàng e ấp”) trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ (“man điệu”) đã thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến.
- Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngây ngất, thì cảnh sông nước miền Tây lại gợi lên được cảm giác mênh mông, mờ ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương. Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc. Và như hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng nước lũ.
Ngòi bút của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi. Cảnh vật thiên nhiên xứ sở qua ngòi bút của ông như có hồn phảng phất trong gió (“Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”). Ông không chỉ lầm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng của cảnh vật.
Đọc đoạn thơ này, ta nhưlạc vào thế giới của cái đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc. Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên từ tâm hồn ngây ngất, say mê của những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt. Với ý nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng.
4. Đoạn thơ: “Tây Tiến.......khúc độc hành”:
- Trên cái nền hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng (đoạn 1) và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ (ở đoạn 2), đến đoạn thứ ba, hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện với vẻ đẹp đậm chất bi tráng:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể khái quát được gương mặt chung của cả đoàn quân. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu hoà quyện, xâm nhập vào nhau tạo nên vẻ đẹp bi tráng- thần thái chung của bức tượng đài.
- Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài Đồng chí đã trực tiếp miêu tả căn bênh ấy: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,- Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài Cá nước với những hình ảnh thật cụ thể: “Giọt mồ hôi rơi,- Trên má anh vàng nghệ” cũng không quên ảnh hưởng của thứ bệnh quái ác đó. Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu những gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao của người lính. Chỉ có điều, tất cả những cái đó, qua ngòi bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đạm màu sắc lãng mạn. Những cái đầu không mọc tóc của người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh li kì, sản phẩm của trí tưởng tượng xa rời thực tế của nhà thơ, mà chứa đựng một sự thực nghiệt ngã. Những người lính Tây Tiến, người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá cà với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc, trọc đầu. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của Quang Dũng vâvx toát lên vẻ oai phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng thiêng. Sự oai phong lẫm liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ (“mắt trừng gửi mộng”) của họ. Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút của Quang Dũng không phải là những người khổng lồ không tim. Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương (“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”). Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc hoạ dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.
- Ngòi bút của Quang Dũng, khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi luỵ. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt, đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính, trang trọng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”; mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những người lính Tây Tiến (“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”). Hình tượng người lính Tây Tiến có vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, qua cái nhìn của Quang Dũng, lại được bọc trong những tấm “áo bào” sang trọng. Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm (“anh về đất”), và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Trong âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng.
Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ thứ ba này trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội.
5. Đoạn cuối:
Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ, một lần nữa, tô đậm thêm không khí chung của một thời Tây Tiến, tinh thần chung của người lính Tây Tiến. Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn, nhưng linh hồn của đoạn thơ thì vẫn toát lên vẻ hào hùng:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Cái tinh thần “một đi khôngt trở lại” (“nhất khứ bất phục hoàn”) thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của cả đoàn quân Tây Tiến. Tâm hồn, tình cảm của những người lính Tây Tiến vâvnx gắn bó máu thịt với những ngày, những nơi mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua. “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã thành thời điểm một đi không trở lại. Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời mơ mộng, lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy.
III. Câu hỏi
Đề . Phân tích bốn câu thơ sau đây trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thư¬ớc lên cao, ngàn thư¬ớc xuống
Nhà ai Pha Luông mư¬a xa khơi
a)Hai câu thơ đầu: Diễn tả đư¬ợc sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo Tây Bắc (chú ý các từ đầy giá trị tạo hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời). Câu thứ nhất nghe như¬ có hơi thở nặng nhọc của ng¬ười lính. Cách dùng từ “ngửi trời” của câu thơ thứ hai táo bạo, đồng thời có chất tinh nghịch của ng¬ười lính.
b)Hai câu thơ sau: Câu thứ ba như¬ bẻ đôi, diễn tả dốc vút lên, đổ xuống gần nh¬ư thẳng đứng. Đọc câu thứ tư¬, có thể hình dung đoàn quân tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa thấy nhà ai thấp thoáng qua một không gian mịt mùng s¬ương rừng mư¬a núi.
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau tạo ra một âm h¬ưởng đặc biệt (câu thứ 4 toàn thanh bằng).
Có thể liên hệ đến âm hư¬ởng của hai câu thơ của Tản Đà trong bài Thăm mả cũ bên đư¬ờng: “Tài cao phận thấp chí khí uất - Giang hồ mê chơi quên quê h¬ơng” (Tản Đà tả tình, còn Quang Dũng tả cảnh).
Đề 2. Phân tích hình t¬ượng ng¬ười lính Tây Tiến trong đoạn thơ thứ ba của bài Tây Tiến
a) Đây là hình t¬ượng tập thể của ngư¬ời lính Tây Tiến. Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu của từng ng¬ười lính để tạc nên bức t¬ượng đài tập thể mang tinh thần chung của cả đoàn quân.
b)Bốn câu thơ đầu nói về vẻ đẹp lãng mạn của ngư¬ời lính Tây Tiến. Quang Dũng, khi viết về ng¬ười lính Tây Tiến không hề che giấu những khó khăn gian khổ, chỉ có điều, những cái đó đều đ¬ược nhìn bằng con mắt lãng mạn.
c)Bốn câu thơ sau nói tới vẻ đẹp bi tráng của ngư¬ời lính Tây Tiến. Cái bi th¬ương ở đây bị mờ đi tr¬ước lí t¬ởng quên mình của ng¬ười lính (Chiến trư¬ờng đi chẳng tiếc đời xanh). Cái sự thật bi thảm những ng¬ười lính gục ngã bên đư¬ờng không có đến cả manh chiếu để che thân đ¬ược vợi đi nhờ cách nói giảm (anh về đất) và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã. Thiên nhiên đã tấu lên khúc nhạc hào hùng để tiễn đ¬ưa linh hồn những ng¬ười lính Tây Tiến:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gần lên khúc độc hành.


2. VIỆT BẮC
Tố Hữu
PHẦN MỘT: TÁC GIẢ
I. Tiểu sử:
- Tố Hữu ( 1920- 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành
- Quê quán: xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Thời thơ ấu: Tố Hữu sinh ra trong một gia đình Nho học ở Huế - mảnh đất thơ mộng, trữ tình còn lưu giữ nhiều nét văn hoá dân gian.
-Thời thanh niên: Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân
-Thời kỳ sau CM tháng Tám: Tố Hữu đảm nhiệm những cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hoá văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
II. Đường cách mạng, đường thơ: Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn gắn bó và phản ánh chân thật nhữngchặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc, đồng thời cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ.
1.Tập thơ Từ ấy ( 1937 – 1946): Tập thơ chia làm 3 phần:
+ Máu lửa (sáng tác trong thời kì Mặt trận Dân chủ). Nhà thơ cảm thông sâu sắc với cuộc sống cơ cực của những người nghèo khổ trong xã hội (lão đầy tớ, chị vú em, cô gái giang hồ, những em bé mồ côi,...) , đồng thời khơi dậy ở họ ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai.
+ Xiềng xích (sáng tác trong các nhà lao lớn ở Trung Bộ và Tây Nguyên). Đó là tâm tư của một người trẻ tuổi tha thiết yêu đời và khao khát tự do, là ý chí kiên cường của người chiến sĩ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu ngay trong nhà tù.
+ Giải phóng: thể hiện niềm vui chiến thắng, ca ngợi c/m thành công với cảm hứng lãng mạn dâng trào.
2. Tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954):
+ Phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, thể hiện con người quần chúng kháng chiến.
+ Thể hiện những tình cảm lớn của con người VN mà bao trùm là lòng yêu nước.
3.Tập thơ Gió lộng (1955 – 1961): tình cảm bao trùm trong đời sống tinh thần của con người VN là
+ Niềm vui và niềm tự hào, tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới XHCN ở miền Bắc.
+ Thể hện tình cảm với miền Nam và ý chí thống nhất Tổ quốc.
+ Khẳng định tình cảm quốc tế vô sản.
4. Tập thơ Ra trận (1962 – 1971), Tập thơ “Máu và Hoa” (1972 – 1977):
+ Phản ánh sinh động cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nd 2 miền Nam, Bắc; tự hào tin tưởng con đường c/m dưới sự lãnh đạo của Đảng; bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn đối với Bác.
+ Ca ngợi chủ nghĩa anh hùng C/M, ca ngợi Tổ quốc – chân lí của thời đại, ghi lại những đau thương và chiến thắng hào hùng của dân tộc.
Hai tập thơ mang đậm nét sử thi và cảm hứng lãng mạn.
5. Tập thơ : “ Một tiếng đờn” (1978 – 1992), tập thơ “Ta với Ta” (1993 – 1999) đây là những tập thơ thể hiện những suy ngẫm chiêm nghiệm của nhà thơ về cuộc sống và lẽ đời.
III. Phong cách thơ Tố Hữu:
1. Về nội dung: Thơ Tố Hữu mang phong cách trữ tình chính trị rất sâu sắc:
- Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ Tố Hữu hướng tới cái ta chung
- Trong việc thể hiện đời sống, thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi.
- Những điều đó được thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình.
2. Về nghệ thuật: thơ Tố Hữu mang phong cách dân tộc rất đậm đà.
- Thể thơ: lục bát, thất ngôn.
- Ngôn ngữ thơ: dùng từ ngữ và cách nói dân gian, phát huy tính nhạc phong phú trong tiếng Việt.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://a1-trandainghia.forumvi.com
 
ÔN THI TN PHẦN 1
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
a1- nơi đong đầy tình bạn :: Your first category :: góc học tâp :: ngữ văn-
Chuyển đến