a1- nơi đong đầy tình bạn

good
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 ÔN TẬP PHẦN 1

Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 164
Join date : 18/09/2011
Đến từ : TÂY NINH

Bài gửiTiêu đề: ÔN TẬP PHẦN 1   Fri Nov 18, 2011 2:11 pm

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX.

I. Khái quát VHVN từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 .
1. Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa.
- Nền văn học mới vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã góp phần tạo nên một nền văn học thống nhất trên đất nước ta: thống nhất về tư tưởng, về tổ chức và quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ.
- Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ kéo dài suốt 30 năm đã tác động sâu sắc đến đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật, tạo nên ở văn học giai đoạn này những đặc điểm và tính chất riêng của một nền văn học hình thành, phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh lâu dài và vô cùng ác liệt.
- Nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển.
- Về văn hóa từ năm 1945 đến 1975, điều kiện giao lưu bị hạn chế (chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của các nước XHCN như Liên Xô, Trung Quốc).
- Giai đoạn 1975 đến hết thế kỉ XX, đất nước bước vào thời kì hòa bình, ổn định và hướng tới đổi mới toàn diện, sâu sắc, quan niệm văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam có những thay đổi (coi văn học không chỉ là công cụ chính trị mà còn là nhu cầu văn hóa – thẩm mĩ thiết yếu của con người). Trong giai đoạn này, nhất là từ thập kỉ 90, Việt Nam có sự tiếp xúc rộng rãi với văn hóa – văn học thế giới theo con đường hội nhập kinh tế - văn hóa.
2. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu.
a. Chặng đường từ năm 1945 đến 1954.
- Một số tác phẩm trong những năm 1945-1946 đã phản ánh được không khí hồ hởi, vưi sướng đặc biệt của nhân dân ta khi đất nước vừa giành được độc lập (Ngọn Quốc kì, Hội nghị non sông...).
- Từ cuối năm 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và kháng chiến, tập trung khám phá sức mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của quần chúng nhân dân, thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của cuộc kháng chiến.
* Văn xuôi: Truyện ngắn và kí là những thể loại mở đầu cho văn xuôi chặng đường kháng chiến chống Pháp. Những tác phẩm tiêu biểu: Một lần tới Thủ đô và Trận phố Ràng của Trần Đăng, Đôi mắt và nhật kí Ở rừng của Nam Cao, Làng của Kim Lân... Từ 1950, đã xuất hiện những tập truyện kí khá dày dặn: Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc...
* Thơ ca: đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. + Tiêu biểu là những tác phẩm: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Đất nước của Nguyễn Đình Thi...đặc biệt là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
+ Cảm hứng chính là tình yêu quê hương đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi cuộc sống kháng chiến và con người kháng chiến.
* Kịch: một số vở kịch xuất hiện gây sự chú ý lúc bấy giờ như Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi.
* Lí luận, phê bình văn học chưa phát triển nhưng đã có những tác phẩm có ý nghĩa quan trọng như bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của Trường Chinh, bài tiểu luận Nhận đường và tập Mấy vấn đề nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi.
b. Chặng đường từ 1955 đến 1964.
- Văn xuôi mở rộng đề tài, bao quát được khá nhiều vấn đề và phạm vi của hiện thực đời sống như:
+ Đề tài kháng chiến chống Pháp: Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm.
+ Đề tài hiện thực đời sống trước Cách mạng: Tranh tối tranh sáng của Nguyễn Công Hoan, Mười năm của Tô Hoài, Cửa biển của Nguyên Hồng.
+ Đề tài công cuộc xây dựng CNXH: Sông Đà của Nguyễn Tuân, Mùa lạc của Nguyễn Khải.
- Thơ ca phát triển mạnh mẽ. Các tập thơ tập thơ xuất sắc ở chặng đường này gồm có: Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu, Đất nở hoa của Huy Cận , Tiếng sóng của Tế Hanh...
- Kịch nói có phát triển . Tiêu biểu : Một đảng viên của Học Phi, Chị Nhàn và Nổi gió của Đào Hồng Cẩm.
c. Chặng đường từ 1965 đến 1975.
- Văn học tập trung viết về kháng chiến chống Mĩ. Chủ đề bao trùm là ngợi ca tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
- Văn xuôi chặng đường này tập trung phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động, đã khắc họa khá thành công hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất.
+ Từ tiền tuyến lớn, những tác phẩm truyện kí viết trong máu lửa của chiến tranh đã phản ánh nhanh nhạy và kịp thời cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam anh dũng như tác phẩm Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng ...
+ Ở miền Bắc, truyện kí cũng phát triển mạnh. Tiêu biểu là kí chống Mĩ của Nguyễn Tuân; truyện ngắn của Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên, Vũ Thị Hường...Tiểu thuyết cũng phát triển: Bão biển của Chu Văn, Cửa sông và Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu...
- Thơ: đạt nhiều thành tựu xuất sắc, đánh dấu bước tiến lớn của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ chặng đường này thể hiện rõ khuynh hướng mở rộng và đào sâu chất liệu hiện thực, đồng thời tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận. Nhiều tập thơ có tiếng vang, tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn như: Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu, Hoa ngày thường, chim báo bão của Chế Lan Viên, Vầng trăng quầng lửa của Phạm Tiến Duật, Gió lào cát trắng của Xuân Quỳnh, Góc sân và khoảng trời của Trần Đăng Khoa...
Lịch sử thơ ca chặng đường này đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện và những đóng góp của thế hệ nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo...
- Kịch cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. Quê hương Việt Nam và Thời tiết ngày mai của Xuân Trình, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm là những vở kịch tạo được tiếng vang bấy giờ.
d. Văn học vùng tạm chiếm.
- Dưới chế độ Mĩ và chính quyền Sài Gòn, bên cạnh xu hướng văn học tiêu cực, phản động tồn tai đan xen: Xu hướng “chống cộng”, xu hướng đồi truỵ… Nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại xu hướng văn học tiến bộ, yêu nước và cách mạng. Nội dung tư tưởng nói chung của xu hướng văn học này đều nhằm phủ định chế độ bất công và tàn bạo, lên án bọn cướp nước và bán nước, thức tỉnh lòng yêu nước và ý thức dân tộc; kêu gọi, cổ vũ các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, tập hợp lực lượng xuống đường đấu tranh.
- Hình thức của những sáng tác này thường gọn nhẹ: thơ, truyện ngắn, phóng sự, bút kí.
- Tác giả tiêu biểu: Vũ Hạnh, Trần Quang Long, Đông Trình, Sơn Nam, Võ Hồng, Lý Văn Sâm, Viễn Phương...
3. Những đặc điểm cơ bản của VHVN từ 1945 đến 1975: 3 đặc điểm
a. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước, phục vụ cách mạng , cổ vũ chiến đấu:
- Nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước.
- Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là đề tài bao quát làm nên diện mạo riêng của văn học giai đoạn này.
b. Nền văn học hướng về đại chúng:
- Văn học lấy đại chúng làm đối tượng phản ánh và phục vụ, vừa là nguồn cung cấp, bổ sung lực lượng sáng tác cách mạng và kháng chiến đã hình thành ở nhà văn một quan niệm mới về đất nước: Đất nước của nhân dân. Đó là một nền văn học có tính nhân dân sâu sắc cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.
c. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Đề tài có ý nghĩa lịch sử, nhân vật tiêu biểu cho lí tưởng với phẩm chất anh hùng, lời văn sử thi mang giọng điệu trang trọng hào hùng.
- Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ con người Việt Nam có thể vượt lên mọi thử thách và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.
- Khuynh hướng sử thi và lãng mạn làm cho VH giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan hướng tới lẽ sống lớn, tình cảm lớn.
II. Vài nét khái quát về VHVN từ 1975 đến hết thế kỉ XX:
1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa:
- Với chiến thắng mùa xuân năm1975, lịch sử dân tộc ta mở ra một thời kì mới: thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Tuy nhiên từ năm1975 đến năm1985, đất nước ta gặp những khó khăn, thử thách mới.
- Từ năm 1986 với công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta cũng từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới. Tất cả đã tạo điều kiện để văn học phát triển phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học.
2. Những nét khái quát của VHVN từ 1975 đến hết thế kỉ XX:
- Sau 1975, đề tài văn học được nới rộng hơn. Một số tác phẩm đã phơi bày một vài nét tiêu cực trong xã hội, hoặc nhìn thẳng vào những tổn thất nặng nề trong chiến tranh, đề cập đến nhữmg bi kịch cá nhân và đời sống tâm linh. Đặc biệt từ sau 1986 trở đi, văn học đổi mới mạnh mẽ về ý thức nghệ thuật. Người cầm bút thức tỉnh càng sâu sắc về ý thức cá nhân và có quan niệm mới mẻ về con người.
a. Thơ ca sau năm 1975 không tạo được sức lôi cuốn, hấp dẫn như ở giai đoạn trước. Tuy nhiên, vẫn có những tác phẩm ít nhiều tạo được sự chú ý của người đọc.
+ Chế Lan Viên từ lâu vẫn âm thầm đổi mới thơ ca (Di cảo thơ). Những cây bút thời chống Mĩ cứu nước vẫn tiếp tục sáng tác, sung sức hơn cả là Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo...
+ Thành tựu nổi bật của thơ ca giai đoạn này là trường ca: Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh. Một số tập thơ có giá trị khi ra đời ít nhiều tạo được sự chú ý: Tự hát của Xuân Quỳnh, Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, Thư mùa đông của Hữu Thỉnh. Những cây bút thơ thuộc thế hệ sau năm 1975 xuất hiện nhiều, đang từng bước tự khẳng định mình như: Một chấm xanh của Phùng Khắc Bắc, Tiếng hát tháng giêng của Y Phương...
b. Văn xuôi sau năm 1975 có nhiều khởi sắc hơn thơ ca, một số cây bút bộc lộ ý thức muốn đổi mới cách viết về chiến tranh, cách tiếp cận hiện thực đời sống như: Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng, Thái Bá Lợi với Hai người trở lại trung đoàn,…
+ Từ đầu những năm 80, văn xuôi tạo được sự chú ý của người đọc với những tác phẩm như: Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn, Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng...
+ Từ sau Đại hội Đảng lần VI năm 1986, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, với phương châm nhìn thẳng và hiện thực, phóng sự xuất hiện đề cập tới những vấn đề bức xúc của xã hội.
+ Văn xuôi thực sự khởi sắc với những tập truyện ngắn: Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
c. Kịch nói sau năm 1975 phát triển mạnh mẽ. Một số tác phẩm tạo được sự chú ý của khán giả như Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, Mùa hè ở biển của Xuân Trình...
+ Phóng sự xuất hiện đề cập đến những vấn đề bức xúc của đời sống.
+ Lí luận, nghiên cứu phê bình văn học cũng có sự đổi mới. Ngoài những cây bút có tên tuổi, đã xuất hiện một số cây bút trẻ có nhiều triển vọng.
* Như vậy: Từ sau năm 1975, nhất là từ 1986, VHVN từng bước chuyển sang giai đoạn mới. Văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc. Đề tài, chủ đề đa dạng, thủ pháp nghệ thuật phong phú, cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy.
Cái mới của văn học giai đoạn này là tính chất hướng nội, đi vào hành trình tìm kiếm bên trong, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong hoàn cảnh phức tạp, đời thường. Bên cạnh đó, còn nảy sinh một vài xu hướng tiêu cực, những lúng túng, bất cập, những biểu hiện quá đà, thiếu lành mạnh.
III. Ghi nhớ:
- Văn học VN từ CMT8/1945 – 1975 hình thành và phát triển trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh (hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ) chia làm 3 chặng đường với những thành tựu riêng. Văn học giai đoạn này có 3 đặc điểm cơ bản: vận động chủ yếu theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước, hướng về đại chúng và chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Sau 1975, từ 1986 văn học bước vào thời kỳ đổi mới. Văn học vận động theo hướng dân chủ hoá, mang tính nhân bản, nhân văn sâu sắc, quan tâm nhiều đến số phận cá nhân và có nhiều tìm tòi đổi mới về nghệ thuật.



TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
Phần I: Tác giả
I. Vài nét về tiểu sử:
- Hồ Chí Minh (1890 – 1969), quê ở làng Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An, trong gia đình một nhà Nho yêu nước.
- Thuở nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, thời gian hoạt động cách mạng Người lấy tên là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và nhiều tên khác.
- Năm 1911, ra đi tìm đường cứu nước.
- Năm 1919, gửi bản yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị hoà bình ở Véc-xay.
- Năm 1920, tham dự Đại hội Tua và trở thành một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
- Năm 1925, thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội và Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông.
- 3/2/1930, chủ trì hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ở trong nước tại Hương Cảng (Hồng Kông), thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Tháng 2/1941, về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
- Tháng 8/1942 – 9/1943, bị giam cầm tại Quảng Tây – Trung Quốc.
- Sau khi ra tù trở về nước tiếp tục lãnh đạo tổng khởi nghĩa CMT8/1945 thành công.
- 2/9/1945, đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình – Hà Nội khai sinh ra nước VNDCCH.
- 6/1/1946, được bầu làm chủ tịch nước cho đến lúc qua đời.
- 2/9/1969, Bác từ trần tại Hà Nội.
Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đồng thời là nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc của phong trào Quốc tế cộng sản. Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một di sản văn học quí giá. Hồ Chí Minh là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Người được UNESCO suy tôn “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn”.
II. Sự nghiệp văn học:
1. Quan điểm sáng tác:
- Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến đấu phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn cũng phải có tinh thần xung phong như người chiến sĩ ngoài mặt trận: Nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hoá.
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Cảm tưởng đọc “ Thiên gia thi”)
- Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học. Người căn dặn nhà văn phải “Miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” hiện thực đời sống và phải “giữ tình chân thật”; “nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc” và phải có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
- Khi cầm bút, Người bao giờ cũng quan tâm đến mục đích, đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Người đặt câu hỏi “Viết cho ai?” trước khi xác định “Viết để làm gì?”, sau đó mới “Viết cái gì?” và“Viết thế nào?”.
2. Di sản văn học:
Người để lại một di sản văn học lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại và đa dạng về phong cách nghệ thuật:
a. Văn chính luận:
- Nhằm mục đích đấu tranh chính trị, tiến công trực diện kẻ thù, thực hiện những nhiệm vụ CM của dân tộc qua những chặng đường lịch sử.
- Nội dung: Lên án chế độ thực dân Pháp và chính sách thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh người nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung.
- Một số tác phẩm tiêu biểu:
+ Bản án chế độ thực dân Pháp( 1925).
+ Tuyên ngôn độc lập ( 1945).
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946 ).
+ Không có gì quí hơn độc lập tự do ( 1966 ).
+ Di chúc ( 1969 ) …
b. Truyện và kí:
- Hầu hết viết bằng tiềng Pháp, trong thời gian hoạt động ở Pháp từ 1922 - 1925: Tác phẩm tiêu biểu: Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (1925); Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) …
+ Nội dung: Nhằm vạch trần bộ mặt bịp bợm xảo trá của bọn thực dân, châm biếm bọn tay sai phong kiến ... mặt khác đề cao những tấm lòng yêu nước và cách mạng, tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc.
+ Nghệ thuật: Bút pháp hiện đại nghệ thuật trần thuật linh hoạt, xây dựng được những tình huống độc đáo, hình tượng sinh động, sắc sảo.
- Ngoài ra có ký : Nhật kí chìm tàu (1931), Vừa đi vừa kể chuyện(1963)...
c.Thơ ca:
- Có giá trị nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của NAQ-HCM, đóng góp quan trọng trong nền thơ ca VN. Phản ánh tâm hồn và nhân cách của Bác: Lòng yêu nước, yêu nhân loại cần lao, tình yêu thiên nhiên, tinh thần lạc quan cách mạng.
+ Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù): Tập thơ chữ Hán gồm 134 bài, được viết trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 tại Quảng Tây (Trung Quốc).
Tập thơ đã tái hiện một cách chân thật bộ mặt tàn bạo của chế độ nhà tù Quốc dân đảng và một phần hình ảnh xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Nội dung chủ yếu của tập thơ là ghi lại tâm trạng, cảm xúc và suy nghĩ của “ bậc đại trí, đại nhân, đại dũng”; là bức chân dung tự họa phản ánh tâm hồn và nhân cách cao đẹp của Người (lòng yêu nước, nhân ái, yêu thiên nhiên, nghị lực phi thường, khao khát tự do, lạc quan, tin tưởng …)  Nhật kí trong tù là tập thơ đặc sắc, đa dạng và linh hoạt về bút pháp.
- Một số chùm thơ làm ở Việt Bắc từ 1941 - 1945 và trong thời kì kháng chiến chống Pháp nhằm mục đích:
+ Thơ tuyên truyền như: Dân cày, Công nhân, Ca binh lính, Ca sợi chỉ …
+ Những bài viết theo cảm hứng nghệ thuật như: Pắc Pó hùng vĩ, Tức cảnh Pắc Pó, Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Thướng sơn (Lên núi), Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng), Thu dạ (Đêm thu), Báo tiệp (Tin thắng trận)…
3. Phong cách nghệ thuật:
* Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh độc đáo, đa dạng. Mỗi thể loại đều có nét riêng, hấp dẫn.
a. Văn chính luận: thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng giàu sức thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp. Văn chính luận mà vẫn thấm đượm tình cảm và giàu hình ảnh.
b. Truyện và kí: rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén với tiếng cười nhẹ nhàng hóm hỉnh nhưng thâm thuý, sâu cay.
c. Thơ ca: thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh, chia làm hai loại.
- Thơ tuyên truyền cách mạng: lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắc dân gian hiện đại.
- Thơ nghệ thuật: mang đặc điểm của thơ cổ phương Đông, hàm súc, uyên thâm, kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại, giũă tình và chất “thép”.

Phần hai: Tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh.

I. Tìm hiểu chung:
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Thế giới: Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc (Hồng quân Liên Xô tấn công vào sào huyệt của phát xít Đức, Nhật đầu hàng Đồng minh).
- Trong nước: Cả nước nổi dậy giành chính quyền thắng lợi.
+ Ngày 19/8/45 chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân.
+ Ngày 23/8/45 tại Huế vua Bảo Đại thoái vị.
+ Ngày 25/8/45 đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn quật khởi giành chính quyền.
+ Ngày 26/8/45: Chủ tịch HCM từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập.
- Ngày 2/9/1945 tại Ba Đình – Hà Nội, Người thay mặt chính phủ lâm thời nước VNDCCH đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước hàng vạn đồng bào ta khai sinh ra nước VNDCCH, mở ra một kỉ nguyên mới độc lập, tự do.
 TNĐL ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh về mặt pháp lý và thực tế của dân tộc, kết tinh những khát vọng cháy bỏng về độc lập tự do của dân tộc.
2. Mục đích:
- Tuyên bố nền độc lập của dân tộc.
- Ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước thực dân, đế quốc.
3. Giá trị của bản TNĐL:
a. Về chính trị: Khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc, tuyên bố sự ra đời của nước VNDCCH.
b. Về lịch sử: Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên mới độc lập tự do dân tộc.
c.Về văn học: TNĐL là bài văn chính luận đặc sắc với lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn và đầy sức thuyết phục - áng văn bất hủ.
4. Bố cục: thể hiện lập luận logic chặt chẽ, gồm 3 phần.
+ Phần mở đầu: (Nguyên lí chung) cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn: Tất cả mọi người và các dân tộc đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
+ Phần thứ hai: (Chứng minh nguyên lí) cơ sở thực tế: Tội ác của thực dân Pháp (trái nguyên lí) nhân dân ta đã đứng lên giành chính quyền (đúng nguyên lí) từ tay Nhật để lập nên nước VNDCCH.
+ Phần cuối: (Tuyên ngôn) nêu ý nghĩa của TNĐL: Tuyên bố với Thế giới về quyền độc lập, tự do thiêng liêng và bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.
 Tính logic, chặt chẽ của lập luận: từ nguyên lí chung làm cơ sở lí luạn dẫn đến những thực tế cần chứng minh để cuối cùng đi đến phần tuyên ngôn.
II. Nội dung:
1. Cơ sở pháp lí và chính nghĩa của bản TN:
Nêu và khẳng định quyền con người và quyền dân tộc:
- Trích dẫn 2 bản tuyên ngôn:
+ Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776)
+ Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp (1791)
-> Nêu lên nguyên lí cơ bản về quyền bình đẳng, độc lập của con người .
* Ý nghĩa của viêc trích dẫn:
- Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, khóa miệng đối phương.
-Khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc( đặt 3 cuộc CM, 3 nền độc lập, 3 bản TN ngang tầm nhau.)
* Lập luận sáng tạo :" Suy rộng ra.." “ -> từ quyền con người nâng lên thành quyền dân tộc.
* Tóm lại: Với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản TN, nêu cao chính nghĩa của ta. Đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập dân tộc.
2.Cơ sở thực tiễn của bản TN:
a. Tội ác của Pháp:
*Tội ác 80 năm: Lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng… nhưng thực chất cướp nước, áp bức đồng bào ta,t rái với nhân đạo và chính nghĩa.
-Chứng cứ cụ thể :
+ Về chính trị: không có tự do, chia để trị ,đầu độc , khủng bố.
+ Về kinh tế: bóc lột dã man
-Đoạn văn có giá trị của bản cáo trạng súc tích,đanh thép, đầy phẩn nộ đ/v tội ác tày trời của thực dân
*Tội ác trong 5 năm (40-45)
- Bán nước ta 2 lần cho Nhật (bảo hộ?)
- Phản bội đồng minh ,không đáp ứng liên minh cùng Việt Minh để chống Nhật, thậm chí thẳng tay khủng bố, giết nốt tù chính trị ở Yên Bái,Cao Bằng.
*Lời kết án đầy phản nộ, sôi sục căm thù. Vừa:
+ Vạch trần thái độ nhục nhã của Pháp (quì gối , đầu hàng , bỏ chạy..)
+ Đanh thép tố cáo tội ác tày trời (từ đó,...từ đó..)
Đó là lời khai tử dứt khoát cái sứ mệnh bịp bợm của thực dân Phaáp đối với nước ta ngót gần một thế kỉ.
b. Dân tộc VN (lập trường chính nghĩa)
- Gan góc chống ách nô lệ của Pháp trên 80 năm ...
- Gan góc đứng về phe đồng minh chống Phát xít.
- Khoan hồng với kẻ thù bị thất thế.
-Giành độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ P .
* Với lối biện luận chặt chẽ, lôgích, từ ngữ sắc sảo. Cấu trúc đặc biệt, nhịp điệu dồn dập, điệp ngữ"sự thật "như chân lí không chối cãi được. Lời văn biền ngẫu.
c.Phủ định chế độ thuộc địa thực dân Pháp và khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc
-Phủ định dứt khoát, triệt để...(thoát ly hẳn,xóa bỏ hết.....) mọi đặc quyền, đặc lợi của thực dân Pháp đối với đất nước VN,
-Khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập, tự do của dân tộc
*Hành văn: hệ thống móc xích->khẳng định tuyệt đối
3.Lời tuyên bố độc lập trước thế giới
- Lời tuyên bố thể hiện lí lẽ đanh thép vững vàng của HCT về quyền dân tộc -tự do( trên cơ sở lí luận pháp lí, thực tế ,bằng ý chí mãnh liệt của dân tộc ).
- Khát vọng tự do của cả dân tộc thể hiện qua giọng văn hào hùng mãnh liệt đầy niềm tin. Cụm từ “tự do, độc lập”nhắc lại một cách kiêu hãnh, đầy ý chí.
- Khẳng định vị thế bình đẳng của nước ta trên toàn thế giới. “ Chúng tôi tin rằng…”
III. Tổng kết:
Với tư duy sâu sắc, cách lập luận chặt chẽ, ngôn ngữ chính xác, dẫn chứng cụ thể, đầy sức thuyết phục, thể hiện rõ phong cách chính luận của HCM. TNĐL đã khẳng định được quyền tự do, độc lập của dân tộc VN,
TNĐL có giá trị lớn lao về mặt lịch sử, đánh dấu một trong những trang vẻ vang bậc nhất trong lịch sử đấu tranh kiên cường bất khuất giành độc lập tự do từ trước đến nay và là một áng văn bất hủ của nền văn học dân tộc.


NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC.
Phạm Văn Đồng
I. Giới thiệu:
1. Tác giả:
- Phạm Văn Đồng (1906-2000) quê ở Quảng Ngãi.
- Tham gia Cách mạng rất sớm, từng bị đày ra Côn Đảo (1929-1936), 1940 được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa Cách mạng ở Việt – Trung.
- Sau năm 1945, ông có nhiều cống hiến trong việc xây dựng, quản lí nhà nước ta, từng là trưởng phái đoàn Việt Nam dự hội nghị Phông tenơblô, hội nghị Giơnevơ, ông từng giữ nhiều chức vụ: Bộ trưởng Bộ tài chính, Bộ trưởng Bộ ngoại giao, phó Thủ tướng, Thủ tướng, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng . . .
- Ông còn là một nhà giáo dục, một nhà lí luận văn hóa, văn nghệ.
2. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài này được viết năm 1963 nhân kỉ niệm 75 năm ngày mất Nguyễn Đình Chiểu ( 3/7/1988).
- Hoàn cảnh đất nước: Mĩ can thiệp vào chiến trường Việt Nam ngày càng nhiều, đánh phá miền Nam và chuẩn bị tiến hành chiến tranh xâm lược miền Bắc, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam đang diễn ra mạnh mẽ.
3. Bố cục: 3 phần
Phần 1 ( mở bài) : Từ đầu → cách đây một trăm năm.
Phần 2 ( thân bài): Tiếp → vì văn hay của “ Lục Vân Tiên.”
Phần 3( kết bài) : Còn lại.
II. Tìm hiểu văn bản:
1.Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu:
a. Cuộc đời:
- Nguyễn Đình Chiểu là nhà nho sinh trưởng ở đất Đồng Nai, sinh ra trong buổi đất nước bị giặc xâm lược, triều đình bán nước, phong trào khởi nghĩa nổ ra khắp nơi “ Nguyễn Đình Chiểu vốn là một nhà nho sinh trưởng ở đất Đồng Nai hào phóng, lại sống giữa lúc nước nhà lâm nguy, vua nhà Nguyễn cam tâm bán nước, nhưng khắp nơi, nhân dân và sĩ phu anh dũng đứng lên đánh giặc cứu nước”.
- Ông bị mù nên lấy văn chương làm vũ khí chống giặc “ vì mù cả hai mắt hoạt động của người chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn”.
- Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương vì nghĩa lớn.
b. Quan niệm sáng tác:
- Văn chương là vũ khí giết giặc “ Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
- Coi thường những kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa :
“ Thấy nay cũng nhóm văn chương
Vóc dê da cọp khôn lường thực hư”.
2. Đánh giá về thơ văn yêu nuớc Nguyễn Đình Chiểu:
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu giúp người đọc hình dung được phong trào kháng Pháp suốt 20 năm ( từ 1860 trở về sau).
- Thơ văn yêu nước của ông :
+ Kêu gọi lòng yêu nước không đầu hàng giặc “ Bớ các quan ơi . . .bỏ qua sao phải”.
+ Ca ngợi những người anh hùng tận trung với nước, than khóc cho những liệt sĩ ngã xuống vì dân, tình cảm của dân tộc đối với những chiến sĩ yêu nước “ ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước”.
→ Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những tác phẩm bằng tất cả nhiệt huyết yêu nước của mình, góp phần khơi dậy lòng yêu nước của những con người thời đại ông, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống thực dân thông qua hình tượng những con người tận trung với nước, giữ khí phách hiên ngang cho dù chiến bại.

3. Đánh giá về tác phẩm Lục Vân Tiên:
- Tác phẩm đề cao chính nghĩa, ca ngợi những người trung nghĩa “đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa”.
- Truyện tuy có hạn chế: những luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi đến thời đại ta đã lỗi thời, có những chỗ lời văn không được trau chuốt lắm nhưng nó vẫn là tác phẩm lớn có giá trị, gần gũi và được nhân dân yêu thích (những nhân vật trọng nghĩa, khinh tài gần gũi với quan niệm sống của dân, viết bằng lối văn nôm na dễ hiểu, dễ nhớ, có không ít những vần thơ hay).
III. Tổng kết:
1. Nghệ thuật:
- Hệ thống lập luận chặt chẽ, hệ thống luận điểm rõ ràng:
+ Luận điểm trung tâm của bài nằm ở phần mở đầu bài viết “ Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này”.
+ Trong bài viết có ba luận điểm làm sáng tỏ cho luận điểm trung tâm :
Luận điểm 1 (đầu thân bài) : “Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là một chiến sĩ hi sinh, phấn đấu vì một nghĩa lớn.”
Luận điểm 2 ( giữa thân bài) : “Thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ suốt hai mươi năm trời.”
Luận điểm 3( cuối thân bài) : “Bây giờ xin nói về Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu, rất phổ biến trong dân gian nhất là ở miền Nam.”
Ngoài ra phần kết luận tác giả còn nêu luận điểm để tóm lại bài viết : “Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gưong sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng .”
- Ngoài hệ thống luận điểm chặt chẽ, bài viết có sức thuyết phục là nhờ những yếu tố biểu cảm, từ ngữ đặc sắc, giàu hình ảnh: ( “Trên trời có những vì sao… càng thấy sáng”, “ Trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu còn có những đoá hoa, những hòn ngọc rất đẹp”) ; có sự kết hợp giữa phân tích, đánh giá và đặc biệt là tình cảm của tác giả.
- Bài viết có kết cấu không theo trình tự thời gian.
2. Nội dung :
Với cách nghĩ sâu rộng mới mẻ của một người gắn bó với dân, với nước, tác giả đã làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu với hoàn cảnh của Tổ quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay. Tác giả cũng hết lòng ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu, một con người suốt đời dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu vì dân, vì nước, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ Việt Nam.


MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ
Nguyễn Đình Thi
I. Giới thiệu:
1. Tác giả:
- Nguyễn Đình Thi ( 1924-2003), ông sinh tại Lào, quê ở Hà Nội.
- 1941 tham gia hoạt động cách mạng, 1945 tham gia hội văn hoá cứu quốc và hội nhà văn Việt Nam.
- 1958-1989 là Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam, từ 1995 là Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, 1996 được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Thể loại sáng tác: văn, thơ, nhạc, kịch, lí luận phê bình văn nghệ …
- Tác phẩm: Tiểu thuyết : Xung kích ( 1951),Vào lửa (1966)… ; Thơ: Người chiến sĩ(1956), Bài thơ Hắc Hải(1958)…
2. Hoàn cảnh sáng tác:
9/1949, Hội nghị tranh luận văn nghệ tổ chức ở Việt Bắc, trong hội nghị này, Nguyễn Đình Thi đã trình bày quan niệm của mình về thơ trong “ Mấy ý nghĩ về thơ”, bài viết này sau được đưa vào tập “ Mấy vấn đề văn học”.
II. Tìm hiểu văn bản:
1. Những đặc trưng cơ bản của thơ:
- Đặc trưng cơ bản nhất của thơ là tâm hồn con người:
+ Quá trình sáng tạo thơ là dùng lời và chữ để diễn tả sự rung động khác thường của trạng thái tâm lí.
+ Làm thơ là “đang sống nhưng không chỉ nhìn lại sự sống mà là tâm hồn cũng rung động”.
+ Người đọc tiếp nhận thơ bằng tâm hồn “ làm sống ngay một tình cảm, một nỗi niềm trong lòng người đọc”.
+ Quá trình tiếp nhận thơ của người đọc là quá trình chủ động, một trạng thái tinh thần mới được nảy sinh “ mọi sợi dây của tâm hồn rung lên vì chạm thấy những hình ảnh, những ý nghĩ, những mong muốn, những tình cảm mà lời và chữ của bài thơ kéo theo đằng sau như vùng sáng xung quanh ngọn lửa”.
- Những đặc trưng khác:
+ Hình ảnh trong thơ: Là hình ảnh nảy sinh từ tâm hồn của người làm thơ khi họ tiếp xúc với đời sống
“ hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn”.
Hình ảnh nhà thơ tìm thấy phải là những hình ảnh mới mẻ, những hình ảnh ấy có từ cuộc sống, nhà thơ phải đào sâu tìm tòi, mở rộng hồn mình để thu nhận hình ảnh từ cuộc sống.
+ Cảm xúc: là yếu tố quan trọng bậc nhất mà thơ hướng tới “ cảm xúc là phần thịt xương hơn cả của đời sống tâm hồn”.
+ Thơ phải có tư tưởng, tư tưởng trong thơ gắn liền với cuộc sống và nằm ngay trong cảm xúc “ tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống, tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc tình tự”.
+Cái thực trong thơ: là sự thành thực của cảm xúc, là biểu hiện một cách chân thực, sinh động những gì đang diễn ra trong tâm hồn “ hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc một trạng thái nào đó”.
2. Ngôn ngữ thơ:
- Ngoài giá trị ý niệm nó còn khơi gợi cảm xúc, suy nghĩ của con người “ mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung, ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả xung quanh những ngọn nến”.
- Ngôn ngữ trong thơ là ngôn ngữ nhịp điệu:
+ Nhịp điệu ở nhịp bằng trắc, bổng trầm.
+ Nhịp điệu trong tâm hồn.
- Ngôn ngữ thơ khác với văn xuôi, nó luôn đòi hỏi sự toàn bích “ văn xuôi đuợc phép không mười phần hoàn hảo, nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích”.
3. Thơ tự do, thơ không vần:
- Nguyễn Đình Thi quan niệm “ không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ”. Điều quan trọng là thơ phải nói lên được tư tưởng, tình cảm của thời đại, diễn tả đúng tâm hồn của con người ngày nay.
- Các nhà thơ phải tìm tòi những hình thức mới vì:
+ Mỗi thể thơ có một khả năng riêng.
+ Mỗi thời đại mới bao giờ cũng tạo ra hình thức mới.
+ Hiện nay thơ Việt Nam đang ở “ tuổi trẻ nhất của thời đại mới”.
+ Luật lệ thơ nằm ở sự tự chủ bên trong sự sáng tác của nhà thơ không nằm ở lề lối bên ngoài, phá bỏ lề lối bên ngoài giúp thơ ‘đi xa hơn”.
III. Tổng kết:
1. Nghệ thuật:
- Đầu bài viết tác giả đưa ra khẳng định đặc trưng cơ bản của thơ là tâm hồn, sau đó làm sáng tỏ đặc trưng đó bằng các phương diện cụ thể ( hình ảnh, cảm xúc, tư tưởng . ..)
- Lập luận logic, chặt chẽ, lí lẽ xác đáng, dẫn chứng tiêu biểu, hợp lí (dẫn ca dao, dẫn thơ Kiều), từ ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh cụ thể, sống động ( “ thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất…cảm xúc” , “ mỗi chữ như một ngọn nến … sáng chung” , “ cảm xúc là phần thịt xương hơn cả của đời sống tâm hồn”)
2. Nội dung:
Tác phẩm đã thể hiện được những suy nghĩ của tác giả về bản chất của thơ ca và quá trình sáng tạo thơ ca, bài viết đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://a1-trandainghia.forumvi.com
 
ÔN TẬP PHẦN 1
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
a1- nơi đong đầy tình bạn :: Your first category :: góc học tâp :: ngữ văn-
Chuyển đến